Chúa Jêsus, Tôn Giáo Và Chiến Tranh Chính nghĩa
Có cái gọi là một cuộc chiến tranh chính nghĩa không? Bàn luận về tôn giáo, chiến tranh tôn giáo, và những học thuyết về chiến tranh chính nghĩa ...
Paul Copan
Ai trong chúng ta đã từng nghe lời tuyên bố này “tôn giáo là kẻ gây ra xung đột”? Chúng ta quá quen thuộc với những chiến dịch quân sự càn quét tại Trung Đông và Bắc Phi nhân danh Hồi giáo. Nhân danh Đấng Christ, Đoàn quân Thập tự chinh đã hành quân đánh chiếm lại vùng đất trước đây từng là của những người theo đạo Cơ Đốc. Vào thế kỷ 16 và 17 ở Châu Âu (1550-1650), chiến tranh giữa Tin Lành và Công Giáo đã gây đổ rất nhiều máu. Đã có những cuộc tàn sát người Do Thái dưới thời Nga hoàng -- thường được biện minh dưới hình thức tôn giáo. Mohandas K. Gandhi bị giết bởi một người lính theo đạo Hindu vào năm 1948; thủ tướng của Sri Lanka bị một thầy tu đạo Phật ám sát vào năm 1959.1 Ngày nay, chúng ta vẫn thấy có nhiều cuộc đụng độ giữa Công Giáo và Tin Lành tại Bắc Ai-len. Tại Ấn Độ, chúng ta thấy có nhiều vụ đánh nhau giữa đạo Hin-đu và đạo Hồi. Đạo Phật và đạo Hin-đu cũng tranh chiến với nhau ở Sri Lanka. Chúng ta cũng thấy giáo chủ Hồi giáo (Iran) Khomeini đã kêu gọi truy nã tử hình đối với Salman Rushdie vì cuốn tiểu thuyết Satanic Verses (Những vần thơ của quỷ Satan).
Có phải tôn giáo gây ra bạo lực và chiến tranh tôn giáo?
Một vài quan sát đúng đắn:
1) Ngược lại với những gì nhà văn Regina Schwartz đã tuyên bố2, nói rằng “thuyết độc thần” gây ra “sự bạo hành” trong xã hội Tây phương và những tôn giáo không bắt nguồn từ phương Tây thường không dính dáng đến bạo lực là đơn giản hóa vấn đề.
2) Nhiều máu đã đổ ra vào thế kỷ 20 là kết quả của những người theo thuyết vô thần. Thật mỉa mai, tôn giáo bị vu là gây ra bạo hành nhưng những người chỉ trích tôn giáo im lặng khi niềm tin của những người không có đạo hay những người vô thần -- như Stalin hay Mao Trạch Đông -- tiến hành tàn sát hoàn toàn hàng triệu triệu cuộc đời.
3) Do đó cái chúng ta phải xem xét là bản chất của những lời dạy dỗ của một tôn giáo, không chỉ xét theo khía cạnh đã bị lạm dụng và vội lên án nó từ quan điểm đó. Có phải việc đứng lên cầm gươm nhân danh Chúa Jêsus để bành trướng đạo Chúa là phù hợp với những gì Chúa Jêsus khẳng định hay không? Chúng ta cũng có thể có những thắc mắc tương tự đối với Hồi giáo và đạo Hin-đu.
4) Vì thế không chỉ tự thân tôn giáo gây ra bạo lực nhưng chính một hệ thống tư tưởng nhất định nào đó mưu cầu dùng lý tưởng hay tôn giáo để biện minh cho việc kiểm soát tư tưởng của người khác và hạn chế sự tự do mang tính cơ bản nhất mới là thủ phạm.
5) Ở đâu mà sự tự do của lương tâm, tự do tôn giáo hoặc quyền của phụ nữ bị lạm dụng, thì tất cả chúng ta phải cự tuyệt và xem những điều đó là sai trái. Đôi khi điều này đồng nghĩa với việc sẽ gây ra tranh luận với những người tự xưng có cùng tôn giáo với chúng ta nhưng họ lợi dụng bạo lực để khuếch trương hệ thống tôn giáo của họ. Lấy thí dụ, những người lên án lệnh truy nã tử hình (fatwah) của giáo chủ Hồi giáo Khomeini (Iran) đối với Salman Rushdie vì cuốn tiểu thuyết Satanic Verses (những vần thơ của quỷ Sa-tan) của ông ở đâu?
Chiến tranh tôn giáo trong cùng tôn giáo
Tôi rất vui khi có một người Hồi giáo đại diện lên tiếng ở đây; thật họ chính là những người có ảnh hưởng, những người mà tiếng nói của họ đã dẫn đến những sự thay đổi thiết yếu trong xã hội Hồi giáo khắp thế giới để đạo Hồi trở nên phù hợp với cái làng thế giới trong đó có chúng ta.3 Như Muqtedar Khan (một người Hồi giáo đến từ Ấn Độ, hiện sống ở Mi-chi-gan) của Trung tâm Nghiên cứu Hồi Giáo và Dân Chủ đã khẳng khái viết sau vụ cướp máy bay vào ngày 11 tháng 9 ở Mỹ, trong đó ông công khai chỉ trích tinh thần không khoan dung nhân danh Hồi giáo:
Sự chiếm đóng Pa-lét-tin của dân Y-sơ-ra-ên có lẽ là tâm điểm của mối bất bình của người Hồi giáo đối với các nước phương Tây. Dẫu biết như thế tôi vẫn phải nhắc bạn rằng dân Y-sơ-ra-ên đối xử với một triệu công dân Ả Rập bằng thái độ tôn trọng hơn hẳn so với dân Ả Rập đối xử với công dân của họ. Ngày nay những người tị nạn Pa-lét-tin có thể định cư và trở thành công dân của Mỹ, bất chấp những lời phóng đại quá mức của thế giới Ả Rập và giáo lệnh Quranic (24:22) rằng không một quốc gia Hồi giáo nào trừ khu vực sông Giô-đanh được giúp đỡ họ. Trong khi chúng ta lớn tiếng khăng khăng lên án Y-sơ-ra-ên vì sự đối xử tệ của họ đối với người Pa-lét-tin thì chúng ta lại im lặng khi những quốc gia Hồi giáo lạm dụng quyền của họ để giết hàng ngàn người Hồi giáo. Còn nhớ vụ Sa-đam và những vũ khí hoá học của ông dùng để giết người Hồi giáo (ở Kurds) chứ? Còn nhớ những hành động quá đáng của quân đội Pa-kis-tan nhằm chống lại người Hồi giáo (ở Bengalis) không? Còn nhớ những anh hùng Mujahideen của Afghanistan và các cuộc tàn sát lẫn nhau của họ hay không? Có bao giờ bạn lên án họ vì những hành động quá đáng của họ không? Chúng ta có bao giờ yêu cầu sự can thiệp của quốc tế hay đòi hỏi phải trả thù họ không? Bạn có biết những người Saudi (Ả rập Xê-út) đã đối xử như thế nào với thành phần thiểu số Shi'as của họ không? Có bao giờ chúng ta lên tiếng phản đối sự vi phạm quyền của họ hay chưa? Nhưng tất cả chúng ta đều lên án dân Y-sơ-ra-ên; không phải vì chúng ta quan tâm đến quyền lợi và cuộc sống của người Pa-lét-tin mà chỉ vì chúng ta ghét “dân Y-sơ-ra-ên”.
Đây là những lời nói thật dũng cảm, nhưng chúng cần phải được nói để tạo nên sự thay đổi trong cộng đồng người Hồi giáo. Những kiểu lên án cách thận trọng và quả quyết tương tự như thế thật là hợp lệ khi có sự lạm dụng chống lại nhân loại nhân danh bất kì truyền thống tôn giáo nào xảy ra -- bao gồm cả truyền thống của tôi.
Khoan dung tôn giáo (religious tolerance) mà không có chiến tranh tôn giáo
6) Do đó, chính những tuyên bố mang tính chân lý liên quan đến tính độc thần của tôn giáo chứng minh tôn giáo độc thần không duy trì bạo lực -- còn về tôn giáo đa thần:4 Dầu Lạc Ma Đa-lai khước từ sự hiện hữu của Đấng Tạo Hóa, tôi vẫn cảm kích những gì ông đã làm để xúc tiến hoà bình. Ông tuyên bố rằng Phật giáo Tây Tạng là “hình thức cao nhất và đầy đủ nhất của đạo Phật.”5 Hơn nữa, không thể đạt được sự cứu rỗi trọn vẹn hay thậm chí thực hành lòng bác ái trừ phi bạn tiếp nhận học thuyết Tánh Không (sunyata) -- phủ nhận sự tồn tại cố hữu hoặc độc lập. Mọi thứ đều hư không. Trong một buổi phỏng vấn vào đầu thập niên 80, ông tuyên bố rằng trạng thái được giải phóng là trạng thái “chỉ có người theo đạo Phật mới có thể đạt được.”6 Tôi không đồng ý với điều này nhưng những quan điểm khác nhau của chúng ta không nhất thiết phải gây ra bạo lực hay vũ lực. Chúng cũng không khiến chúng ta ngừng đấu tranh vì nhân quyền, sự tự do tôn giáo, quyền được sống và được tự do cho loài người, là loài dễ bị tổn thương nhất.
Trên thực tế, người nào xưng mình là theo tôn giáo đa thần tin rằng họ có đức hạnh mà Lạc Ma Đa-lai hay tôi không có -- họ tin rằng quan điể của họ là đúng còn quan điểm của chúng ta là sai. Nhưng có cố gắng bao nhiêu, chúng ta cũng không thể tránh được những tuyên bố mang tính chân lý bất di bất dịch của tôn giáo. Câu hỏi đặt ra là: chúng ta đối xử thế nào với những người bất đồng với chúng ta – với lòng tôn trọng hay như đối với kẻ thù? Sự bất đồng có thể đồng tồn tại với lòng tôn trọng. Chính bản thân tôi từng dự lễ ở một nhà thờ Hồi giáo trong vòng hai năm và tôi thật may mắn khi gặp nhiều người Hồi giáo tuyệt vời và dùng bữa với họ tại nhà riêng của họ. Khoan dung không có nghĩa là chấp nhận mọi quan điểm đều đúng (điều này là không thể, vì khi ấy chúng ta lại không thật sự “khoan dung” với những người không đồng ý với quan điểm đa nguyên của chúng ta); mà nó hàm ý kiên nhẫn chịu đựng những gì chúng ta cho là sai hay không đúng trong tư tưởng của người khác nhưng tôn trọng quyền suy nghĩ và lựa chọn khác nhau của họ vì họ cũng là tạo vật được dựng theo ảnh tượng của Chúa.
Chiến tranh Chính nghĩa- Chúa Jêsus có phản đối chiến tranh không?
7) Giáo hội Cơ Đốc giáo không phải là quốc gia thần quyền (Chúa Jêsus phán: “Nước của ta chẳng phải thuộc về thế gian nầy. Ví bằng nước ta thuộc về thế gian nầy, thì tôi tớ của ta sẽ đánh trận”) nhưng lý tưởng là các Cơ Đốc Nhân cần sống trong đường biên của một quốc gia để mưu cầu sự phồn thịnh cho quốc gia đó. Đôi khi họ được gọi nhập ngũ để bảo vệ sự tồn vong của đất nước (hay của một đất nước khác yếu hơn) chống lại sự tấn công của những kẻ xâm lược.
Trái ngược với những gì nhiều người tin, lời Chúa Jêsus phán về “hãy đưa luôn má bên trái” sau khi bị ai đó vả vào má phải của mình là cách đối xử với sự nhục mạ cá nhân, chứ không phải đối với hành động bạo lực hay vũ lực. Đúng hơn là Chúa Jêsus phán: “Khi bị sỉ nhục, hãy sẵn sàng để chịu sự sỉ nhục khác.” Giả sử những con người trong thời Chúa Jêsus toàn là người thuận tay phải, một cái tát vào má phải là một cái tát bằng mu bàn tay, là điều ngày hôm nay ở Trung Đông người ta xem là một sự sỉ nhục trắng trợn. Ý tưởng về cái tát như một sự sỉ nhục này được thấy trong Ca thương 3:30: “Nó khá đưa má ra cho kẻ vả, khá chịu đầy nhuốc nhơ.” Cái tát này cũng giống như việc nhổ vào mặt người khác trong xã hội của chúng ta.
Chúa Jêsus không phán: “Đừng tự vệ khi ngươi bị tấn công” hay “Đừng giúp đỡ một người phụ nữ đang bị hãm hiếp” hay “Đừng bảo vệ tổ quốc của ngươi khi nó bị xâm lược.” Ngài không phủ nhận nguyên tắc luật pháp về “mắt đền mắt, răng đền răng”; Ngài nói chống lại sự lạm dụng nguyên tắc luật pháp này để biện hộ cho sự báo thù hay trả đũa cá nhân.7
Chiến tranh Chính nghĩa- khi nào một cuộc chiến tranh là chính nghĩa?
Dầu có nhiều nhóm Cơ Đốc theo chủ nghĩa hoà bình mà tôi tôn trọng, nhưng tôi có thể đưa ra nhiều lý do đúng Kinh thánh để biện hộ cho một cuộc chiến tranh chính nghĩa như là giải pháp cuối cùng để mang lại hòa bình lâu bền. Các chính quyền, khi hoạt động đúng chức năng của mình, cần phải mang lại trật tự và trừng phạt những kẻ làm điều ác. Đức Chúa Trời tán đồng với sự sắp đặt này theo Rô-ma 13:1-7 và I Phi-e-rơ 2:14 chỉ ra. Dầu chiến tranh thì không bao giờ hay ho và nhiều người dân vô tội sẽ bị giết, nhưng truyền thống Do Thái-Cơ Đốc vẫn rất thực tế trong việc nhìn nhận việc con người hay tự cho mình là trung tâm và vốn mang bản chất tội lỗi, điều này có thể khiến phải sử dụng vũ lực để ngăn cản những cánh tay của cái ác bành trướng xa hơn, nhằm hạn chế bạo lực.
Nếu cần phải chiến tranh, thì nó phải có những nguyên tắc chính nghĩa, ghi nhớ cả việc con người được dựng nên theo ảnh tượng của Chúa lẫn thực trạng tội lỗi của con người8:
1) LÝ DO CHÍNH ĐÁNG: Lý do duy nhất hợp pháp về mặt đạo đức để tiến hành chiến tranh là tự vệ (hay để bảo vệ một dân tộc có nhu cầu tinh thần cần tự vệ) -- hay nếu có một lý do rất thuyết phục để tấn công phủ đầu (như “một dân lừa đảo” với “những trái bom bẩn”): “Nếu luật này được thi hành rộng rãi thì sẽ không còn có kẻ xâm lược và sẽ không có chiến tranh.”
2) MỤC ĐÍCH CHÍNH ĐÁNG: Mục tiêu duy nhất hợp pháp về mặt đạo đức trong chiến tranh là để khôi phục nền hoà bình với sự phán xét công bằng cho cả đôi bên bạn và thù: “Trả thù, xâm lược, xâm chiếm là những mục đích không thể bào chữa được.” Đôi khi có thể có cả “những hậu quả không cố ý” (giết nhầm thường dân) kèm theo kết quả mong đợi là hạn chế bạo lực.
3) PHƯƠNG CÁCH CUỐI CÙNG: “Chỉ tiến hành chiến tranh khi biện pháp thương lượng, phân xử, thoả hiệp và những cách khác đều thất bại; vì con người có lý trí, nếu có thể chúng ta phải tiến hành đàm phán với lý lẽ và luật pháp, không phải bằng vũ lực.”
4) TUYÊN CHIẾN HỢP PHÁP: Chỉ có những chính quyền hợp pháp mới có quyền khơi mào chiến tranh. Chỉ có nhà nước -- không phải cá nhân hay đảng phái trong nhà nước -- có thể thực thi thẩm quyền này cách hợp pháp.
5) QUYỀN MIỄN THAM CHIẾN: “những ai không phục vụ chính thức với vai trò là nhân viên chính phủ trong quyền hạn của mình, bao gồm cả tù binh chiến tranh và nhân viên y tế thì không được phép chiến đấu và không là đối tượng của vũ lực.”
6) NHỮNG MỤC TIÊU GIỚI HẠN: Vì mục đích của chiến tranh là hoà bình -- không phải là huỷ diệt nền kinh tế của quốc gia thù địch hay phá đổ thể chế chính trị của quốc gia đó.
7) NHỮNG PHƯƠNG TIỆN GIỚI HẠN: “chỉ dùng vũ lực vừa đủ để chống bạo lực và phục hồi hoà bình.” “Vừa đủ” không nhất thiết có nghĩa là chiến thắng mang tính quyết định.
Trong chiến tranh thế giới thứ 2, C.S. Lewis viết rằng “chiến tranh là thứ rất khó chịu”9. Dù vậy, tội ác và sự xâm lược là có thật và chúng ta có thể gây ra nhiều tai hại hơn khi làm lơ hay không ngăn chặn tội ác. Ông nói xã hội của những người theo chủ nghĩa hoà bình không thể duy trì sự hoà bình lâu!
Chỉ có những xã hội tự do mới chịu khoan dung những người theo chủ nghĩa hoà bình. Trong xã hội tự do, số lượng người theo chủ nghĩa hoà bình hoặc là đủ lớn để khiến quốc gia đó bị tê liệt và không thể tham chiến, hoặc không nhiều như vậy. Nếu không đủ lớn, những người theo chủ nghĩa hòa bình không làm gì cả. Còn nếu họ đủ lớn, họ trao nộp một quốc gia đang khoan dung những người theo chủ nghĩa hoà bình cho những nước láng giềng chuyên chế không khoan dung như vậy. Như vậy, chủ nghĩa hoà bình theo loại này dẫn thẳng đến một thế giới mà sẽ không còn một người theo chủ nghĩa hòa bình nào được sống sót.10
Chúa Jêsus phán phước cho những người làm cho người hoà thuận – tức những người không chỉ gìn giữ hòa bình mà còn tích cực theo đuổi sự hiệp nhất giữa các đảng phái đang xung đột lẫn nhau. Trong niềm tin Cơ Đốc, Chúa Jêsus là một ví dụ điển hình nhất, qua sự chết của Ngài như chúng ta thấy theo lời của thánh Phao-lô “Đức Chúa Trời vốn ở trong Đấng Christ, làm cho thế gian lại hòa với Ngài.”
© Paul Copan, Ravi Zacharias International Ministries
In ấn theo sự cho phép của Ravi Zacharias International Ministries (www.gospelcom.net/rzim).
Bài viết về chiến tranh tôn giáo này là một đoạn trích được cho phép từ một hội thảo trong nhóm. Tiến sĩ Paul Copan là Giáo Viên Thỉnh Giảng của trường Trinity Evangelical Divinity, một diễn giả lưu động và tác giả của quyển sách True for You, But Not for Me (Đúng với bạn, nhưng không đúng với tôi) và That's Just Your Interpretation (Đó chỉ là cách hiểu của bạn).
(1) Thậm chí gần đây cũng có một vị thầy tu tên Pramaha Sayanjerasutho đã bị bắt sau khi dùng súng AK-47 bắn chỉ thiên tại toà nhà Quốc hội Thái Lan để phản đối sự quấy rối của cảnh sát (“Thầy Tu Đe Doạ Quốc Hội Thái” theo BBC News, 22.05.2002; truy cập tại http://news.bbc.co.uk/hi/english/world/asia-pacific/newsid_2001000/2001557.stm).
(2) The Curse of Canaan: The Violent Legacy of Monotheism (Di Sản Mang Tính Bạo Lực Của Độc Thần Giáo) Chicago: nhà in University of Chicago Press, 1997.
(3) Những người theo đạo Hồi phải thừa nhận rằng tôn giáo của họ không chỉ mưu cầu tự vệ nhưng còn mang tính xâm lược, bành trướng cách tàn nhẫn. Vì những bằng chứng rõ ràng về sự tác động của Hồi giáo và những mối quan hệ không phải lúc nào cũng tích cực của người Hồi giáo với người Do Thái và Cơ Đốc Nhân (cái mà những người biện hộ cho Hồi giáo có khuynh hướng che giấu với tên gọi “chịu đựng”), cho thấy những bản văn của tác giả người Ai Cập gốc Do Thái, ông Bat Ye'or: The Decline of Eastern Christianity Under Islam (Sự Suy Tàn Của Cơ Đốc Giáo Phương Đông Dưới Thời Hồi Giáo) và Islam and Dhimmitude: Where Civilizations Collide (Hồi Giáo Và Cơ Đốc Giáo: Nơi Hai Nền Văn Minh Xung Đột) (cả hai đều được xuất bản bởi nhà in Dickinson Farleigh University Press).
(4) Về những lời bình về tôn giáo đa thần, xin xem "True for You, But Not for Me" (Đúng Cho Anh Nhưng Không Đúng Cho Tôi) của Paul Copan, (Minneapolis: Bethany House, 1998); Encountering Religious Pluralism (Gặp Gỡ Tôn Giáo Đa Thần) của Harold Netland (Downers Grove, Ill.: InterVarsity Press, 2001); The Meeting of Religions and the Trinity (Cuộc Hội Ngộ Giữa Tôn Giáo và Giáo Lý Ba Ngôi) của Gavin D'Costa, (Maryknoll, N.Y.: Orbis, 2000).
(5) Kindness, Clarity and Insight (Sự Ân Cần, Trong Sáng và Thấu Hiểu) (New York: Snow Lion, 1984), 45.
(6) José Ignacio Cabezón, ed. The Bodhgaya Interviews (Những Cuộc Phỏng Vấn Bodhgaya) (New York: Snow Lion, 1988), 22.
(7) Vài sự quan sát về những lời bình của Chúa Jêsus trong Bài giảng trên núi:
- “Đừng chống cự kẻ ác”: Cựu Ước tán thành sự tự vệ (thậm chí có thể giết người để bảo vệ mạng sống của ai đó). Cảnh sát và sự thực thi luật pháp là cần thiết để bảo vệ trật tự trong xã hội. Rô-ma 13:4 làm rõ rằng những kẻ làm ác sẽ bị chống cự. Chúa Jêsus mạnh mẽ phản đối những kẻ đổi tiền trong đền thờ theo sách Giăng 2. Những gì Chúa Jêsus phán ở đây không chỉ áp dụng vào việc làm sao nhà nước có thể vận hành nhưng còn làm sao những môn đồ của Đấng Christ hành động trong mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau. (Lấy thí dụ nhà nước phải phán xét những kẻ làm ác. “Tha thứ cho kẻ thù” không thích hợp với hệ thống pháp lý, tha bổng cho những tên tội phạm mà không có sự trừng phạt nào hết.)
- “Nếu ai vả má bên hữu ngươi, hãy đưa má bên kia cho họ luôn”: Câu này không hàm ý cón cái của bạn không thể tự vệ như là biện pháp cuối cùng khi nó bị những kẻ hay bắt nạt khác ở trường. Cũng không có nghĩa chúng ta đứng làm lơ trong khi thấy một người nữ đang bị hãm hiếp. Thậm chí Chúa Jêsus khi bị vả theo lệnh của thầy tế lễ cả cũng không “đưa má còn lại”. Đúng hơn là, Ngài đáp: “Ví thử ta nói quấy, hãy chỉ chỗ quấy cho ta xem; nhược bằng ta nói phải, làm sao ngươi đánh ta?” (Giăng 18:23)
- “Nếu ai muốn kiện ngươi đặng lột cái áo vắn, hãy để họ lấy luôn cái áo dài nữa”: Áo vắn (áo ngoài) được xem là quyền hay vật sở hữu không thể cho ai dưới luật pháp của Môi-se (Xuất Ê-díp-tô ký 22:26). Chúa Jêsus phán: “Hãy vui mừng mà từ bỏ những gì hợp pháp thuộc về người.” Cơ Đốc Nhân đầu phục “quyền không thể chuyển nhượng của mình” vì ích lợi cho người khác.
- “Nếu ai muốn bắt ngươi đi một dặm đường, hãy đi hai dặm với họ”: Trong thời của Đấng Christ, một người lính La Mã có thể bắt một người Do Thái khiêng một vật nặng đi một dặm (1.000 bước) và không hơn nữa. Hành động này ngụ ý làm người Do Thái tức điên lên vì người Do Thái đã khinh thường người La Mã. Bạn có thể hình dung được họ sốc thế nào khi một người theo Chúa để nghị mang gánh nặng ấy thêm một dặm đường nữa? Điều đó bày tỏ một đặc tính siêu nhiên. Đấng Christ muốn nói: “Hãy vượt xa hơn sự mong đợi mà người ta áp đặt trên các con.”
- “Ai xin của ngươi, hãy cho, ai muốn mượn của ngươi, thì đừng trớ”: Câu này không nhằm biện hộ cho sự ban cho cách bừa bãi nhưng đúng hơn là lòng rộng lượng hy sinh cách vui mừng – ngay cả cho những kẻ ác. Chúng ta không nên cho tiền cho những người lúc nào cũng có hơi men. Đức Chúa Trời chắc chắn rằng không cho chúng ta bất cứ những gì CHÚNG TA cầu xin vì Ngài biết những yêu cầu của chúng ta không phải lúc nào cũng đúng đắn (Gia-cơ 4:2). Đấng Christ cũng không tán đồng hệ thống phúc lợi xã hội của chính phủ bố thí cho bất cứ ai xin. Phao-lô viết rằng một người nên làm việc nếu người đó muốn ăn.
(8) Trích từ bài luận của Arthur Holmes ("Just War") trong Four Views on War (Bốn Quan Điểm về Chiến Tranh) của Robert Clouse (Downers Grove, Ill.: InterVarsity Press, 1991), 4-5.
(9) The Weight of Glory and Other Essays (Sức Nặng Của Sự Vinh Hiển và Những Bài Luận Khác) (New York: Macmillan), 39.
(10) Ibid., 44.
Gởi trang này cho bạn bè
Làm thế nào để bắt đầu mối quan hệ với Đức Chúa Trời
|